Nhóm doanh nghiệp nhà nước và “nguyên” nhà nước: nơi các cơ chế được “trộn lẫn”


Nhóm cuối cùng tôi đề cập đến là công nhân làm trong các doanh nghiệp nhà nước đã chuyển đổi hình thức sở hữu (nói gọn lại là đã cổ phần hóa) và các doanh nghiệp 100% vồn nhà nước (tôi gọi là nhóm thứ ba). Thực ra, xét về cơ chế trả lương, có thể xếp cả lao động làm trong các cơ quan sự nghiệp có thu và/hoặc tự chủ một phần hoặc toàn bộ tài chính vào nhóm này.

Có thể nói tiền lương và thu nhập của lao động ở khu vực này là tương đối “ung dung” bởi đây là nơi các cơ chế khác nhau hội tụ, đan xen, trộn lẫn nhau.

Có những phần, doanh nghiệp (hay tổ chức sự nghiệp) hoạt động theo nguyên tắc thị trường. Ở phần đó, ta có thể thấy tiền lương hầu như là được xác định theo cơ chế thị trường, trong đó có phần “cứng” được tính toán theo thang bảng lương của nhà nước để chủ yếu lấy làm cơ sở đóng bào hiểm xã hội và các mục đích mang tính nguyên tắc khác, còn lại là “phần mềm” thì dưới danh nghĩa “tự chủ” thì chỉ có trời biết! Ở phần này, doanh nghiệp và người lao động tỏ ra có vẻ “ung dung”, ít nhất là ung dung hơn so với nhiều doanh nghiệp tư nhân. Theo đánh giá thì phần tiền lương “cứng” chiếm khoảng từ 30-50% lương thực lĩnh.

Thế mới có chuyện thật như đùa là khi nhà nước điều chỉnh lương tối thiểu tăng, trong khi công nhân ở các doanh nghiệp tư nhân tỏ ra phấn khởi thì các đồng nghiệp của họ ở một số doanh nghiệp thuộc nhóm này lại kém vui. Vì sao? Vì tổng tiền lương của họ sẽ không đổi, nhưng vì lương tối thiểu tăng, nên “phần cứng” trong cơ cấu tiền lương tăng, dẫn đến khoản đóng bảo hiểm xã hội (và các khoản khác) tăng lên theo và như vậy sẽ làm cho cái “phần mềm” giảm đi và dẫn đến tổng tiền lương họ thực lĩnh giảm đi.

Đối với các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thì ngoài quản lý về thang bảng lương, còn có một số quy định khác nữa liên quan tới tài chính của doanh nghiệp như quỹ lương, thuế, thu ngân sách, rồi cả việc khống chế giá trần đối với một số sản phẩm và dịch vụ nữa (ví dụ như giá xăng, điện,..).

Cái sự “trộn lẫn” này còn thể hiện ở cơ chế xác định tiền lương khá rắc rối đối với các đối tượng đặc biệt như Tổng giám đốc, Hội đồng quản trị. Theo số liệu tính toán cho năm 2008-2009 cho thấy tính riêng đối với 36 tổng công ty hạng đặc biệt, tổng công ty được vận dụng hạng đặc biệt và công ty mẹ trong tập đoàn kinh tế thì tiền lương bình quân của người lao động năm 2008 là 5,56 triệu đồng/tháng, năm 2009 khoảng 5,9 triệu đồng/tháng; còn tiền lương bình quân của thành viên chuyên trách Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc là gần 21 triệu năm 2008 và 24 triệu năm 2009.

Ngoài ra, cơ chế thưởng và các chế độ khác được thực hiện trong doanh nghiệp cũng là một “mê hồn trận”. Chính sự “trộn lẫn” trong cơ chế “vừa buông, vừa quản” trong thời kỳ quá dộ này mới có những chuyện lùm xùm như cái vụ Petrolimex vừa qua.

Tóm lại, nếu ai quan tâm tới cái sự “thấp” của tiền lương thì có lẽ lao động ở nhóm này (chí ít là phần lớn) không phải là đối tượng ưu tiên cần quan tâm. Mọi thứ đều trong tay nhà nước cả. Nếu thấy “ung dung” rồi thì cứ vô tư đi. Còn nếu đùng một cái mà có cái gì khó khăn thì lại có nhà nước chìa tay hỗ trợ.

Bởi vậy, trên bản đồ tiền lương, nếu chỉ quan tâm tới thu nhập thì có lẽ đây là nhóm “ung dung” nhất và cũng ít chuyện phải bàn nhất, nếu như không muốn nói đến những thứ bất hợp lý nằm bên trong cái mớ cơ chế “trôn lẫn” này.

Nguyễn Mạnh Cường

cuong.qhld@gmail.com

This entry was posted in Lương và Lương tối thiểu and tagged , . Bookmark the permalink.

Có 3 phản hồi tại Nhóm doanh nghiệp nhà nước và “nguyên” nhà nước: nơi các cơ chế được “trộn lẫn”

  1. Võ Thị Minh Hiếu nói:

    Hiện nay, chính sách tiền lương đối với doanh nghiệp Nhà nước qui định quá nhiều loại, vừa lương tối thiểu còn có lương tối thiểu vùng, lương tối thiểu chung làm cho các doanh nghiệp đánh lận con đen. Còn các doanh nghiệp thì lại thay đổi, xào nấu thành lương cứng, lương cơ bản, lương mềm. Trong khi người lao động, đặc biệt là lao đông phổ thông không phải ai cũng hiểu được là tiền lương nào mới chính thức là tiền lương doanh nghiệp có trách nhiệm trả cho họ để tự đòi quyền lợi cho mình theo đúng qui định của pháp luật. Phải chăng sự lẫn lộn này cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng đình công trong thời gian qua.

  2. Tôi đồng ý với bạn là đối với nhiều doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa hoàn toàn, hoặc thậm chí cả những DN mà nhà nước vẫn giữ cổ phần chi phối mà hoạt động trong các ngành thâm dụng lao động như dệt may, giày dép thì tình hình tiền lương có lẽ vẫn không khá hơn khu vực tư nhân.
    Tuy nhiên, vì mục đích của phân tích là để thiết kế chính sách tiền lương nên sẽ không thể đi vào chi tiết từng doanh nghiệp hay từng ngành nghề được, mà chỉ có thể chia thành các nhóm lớn và phân tích cơ chế mang tính đặc thù của từng nhóm.
    Đối với nhóm này, tôi gọi là nhóm DN nhà nước và “nguyên” nhà nước. “Nguyên” nhà nước ở đây để chỉ những doanh nghiệp tuy đã cổ phần hóa, nhưng hình bóng của nhà nước vẫn còn lớn và nhà nước vẫn còn con đường can thiệp nếu cần. Còn những doanh nghiệp mà nhà nước đã không còn can thiệp được nữa thì những doanh nghiệp đó tôi coi là thuộc nhóm tư nhân rồi.
    Tóm lại, trong toàn bộ loạt bài này, tôi chỉ muốn phân tích toàn bộ bức tranh tiền lương với những mảng bố cục lớn (6 nhóm) và chỉ ra rằng ở từng nhóm đó thì tiền lương do ai đang nắm quyền định đoạt, và định đoạt theo cơ chế nào. Từ đó mới thấy là nếu thiết kế chính sách tiền lương quốc gia (tức là một chính sách vĩ mô, mang tính bao trùm) thì phải thiết kế như thế nào để vùng bao phủ (hay kiểm soát) lớn tới mức có thể, chứ không dám nói là bao phủ hết và giải quyết được triệt để mọi trường hợp, kể cả những hình thái biến thể của mỗi dạng.

  3. Khách nói:

    Đây là bác nhìn nhận lương của nhóm lao động nào trong các DN cổ phần hóa? Theo em được biết thì số liệu về lương trong các DN này cực misleading. Các DN có thể chỉ tính lương với những lao động được ký HĐ dài hạn là những người có kĩ năng, trình độ khá, thâm niên công tác, còn các công việc khó nhọc giản đơn thì họ dùng temporary hoặc sub-contracted workers. Mà lương của nhóm này thì ko được tính vào cái con số 5 triệu ở trên. Nhiều DN cổ phần hóa hoặc số vốn nhà nước vẫn chiếm đa số hoạt động trong những ngành thâm dụng lao động vẫn trả mức lương rất bèo, thậm chí bèo hơn cả DN FDI cùng ngành nghề và khu vực. Điển hình là ngành dệt may. Nhưng quan trọng là họ rất giỏi che giấu thông tin và quản lý công nhân để công nhân ko bao giờ đi đình công được. Em nghĩ với cơ chế thị trường hiện nay, trừ cac DN nhà nước nằm trong các ngành độc quyền hoặc gần độc quyền thì còn lại đều phải cạnh tranh khốc liệt hết. NLĐ chẳng ung dung tự tại đâu

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s